Khuynh Thành Nguyệt

Tác giả: Kết Kết/La Liên

Biên tập: Mây

-oOo-

Chương 4

Lần thứ hai Sí Nguyệt gặp lại Chu Cẩm Hằng chính là vào năm thứ ba của Lê quốc.

Sau khi lễ Ngọc Chân Hoa kết thúc không lâu, Sí Nguyệt lúc này đã qua sinh nhật mười tám tuổi của mình, mới biết được một tin trọng đại: Thụy Tuyết phải xuất giá.

Thụy Tuyết là một cô gái thuộc tầng lớp quý tộc của Lê quốc, phụ thân và huynh trưởng đều làm quan ở trong triều, cùng Dạ Huyền là thanh mai trúc mã, từ khi hai người họ còn bé đã được đính ước rồi, thế nhưng về sau Dạ Huyền bị Thẩm Anh Trì giam lỏng ba năm, mất hết ký ức, một cô gái trói gà không chặt như nàng lại không hề sợ hãi mà mạo hiểm cả thân mình, tiến vào phủ tướng quân một cách tỉ mỉ cẩn thận, chờ đợi thời cơ để tiếp cận Dạ Huyền, đánh thức ký ức bị ngủ vùi của y.

Sí Nguyệt vẫn luôn yêu thích nàng nhất, cũng từng chờ mong nàng sẽ chở thành hoàng tẩu (chị dâu) của mình, đáng tiếc tạo hóa trêu ngươi, Dạ Huyền ca ca đã bị cái tên họ Thẩm vô sỉ kia làm hại mất rồi, không để tâm tới chuyện tình cảm nam nữ nữa, vì sợ làm lỡ giai nhân, sau khi Dạ Huyền về nước không bao lâu cũng đã hủy bỏ hôn ước với nàng.

Nữ tử Lê quốc đa số đều hào sảng khỏe đẹp, có một loại khí phách chẳng hề thua kém đấng mày râu là bao, Thụy Tuyết tuy rằng ngày thường yếu đuối mỏng manh, thế nhưng tính tình lại hừng hực như lửa, sau khi hủy bỏ hôn ước với Dạ Huyền cũng có không ít vương tôn công tử tới cửa cầu hôn, thế nhưng đều bị Thụy Tuyết cự tuyệt cả, mãi đến khi Minh Hân đế tự tay gửi một phong quốc thư cầu thân đưa tới trên bàn Dạ Huyền, hôn sự của nàng cuối cùng cũng từ việc tư mà biến thành việc nước.

Sau khi hai nước đình chiến giao hảo, việc buôn bán qua lại của dân chúng đôi bên ngày càng mật thiết hơn, trong triều cũng vui mừng chứng kiến không biết bao nhiêu mối nhân duyên của hoàng thân quốc thích kết thúc trong mỹ mãn đầm ấm, đảm bảo biên cảnh của hai nước có thể hòa bình dài lâu.

Người cầu thân với Thụy Tuyết chính là Tứ vương gia Chu Cẩm Sóc, giao tình của hắn với Thẩm Anh Trì rất tốt, năm đó từng gặp qua Thụy Tuyết ở trong phủ tướng quân, vừa nhìn thấy đã động lòng không dứt, sau lại biết được thân phận nàng, đành phải thu lại tư tâm của bản thân, mãi đến khi hai nước đều đã yên yên ổn ổn, nghe nói Dạ Huyền hủy bỏ hôn ước với Thụy Tuyết, tâm tư của Dung vương lại bắt đầu rục rịch lung lay.

Chu Cẩm Hằng vốn cho rằng tứ đệ của mình thân cao phận quý, tay nắm trọng quyền, tuy rằng tướng mạo có phần hung hãn nhưng vẫn không mất đi chút xíu khôi ngô tuấn lãng nào, lại mạnh mẽ khí phách, phẩm hạnh cũng đoan chính, chưa bao giờ ỷ thế hiếp người, phải nói là dư sức xứng với Thụy Tuyết luôn, vì thế liền chuẩn bị đầy đủ sính lễ, tự tay viết một phong quốc thư đưa đi, hẳn là phải ăn chắc mười phần mới đúng.

Không nghĩ tới Lê quốc lại trả sính lễ trở về, khéo léo cự tuyệt việc hôn nhân này, chỉ nói là tề đại phi ngẫu (1), không dám trèo cao với Tứ vương gia, Chu Cẩm Hằng cảm thấy ngờ vực, phái ám vệ đi tới Hổ yển hỏi thăm một phen, mới biết được Thụy Tuyết khi ấy chỉ nói đúng một câu: Đã từng ra biển cả mênh mông , thì nước sông nước hồ chẳng có nghĩa gì nữa.(2)

Dạ Huyền cảm thấy có vài phần hổ thẹn đối với sự thủy chung của Thụy Tuyết, cũng không muốn lấy việc quốc gia đại sự mà miễn cưỡng ý nguyện của nàng, thế nên chỉ vì một câu nói kia của Thụy Tuyết mà bất chấp cả lời khuyên can của triều thần, dứt khoát cự tuyệt Dung vương cầu thân.

Chu Cẩm Hằng không phục lắm, thầm mắng tính tình dân Lê quốc thật sự là vừa xấu vừa cứng đầu, chẳng biết tốt xấu gì cả, Chu Cẩm Sóc nhưng lại cảm thán cô gái này rất có ý chí vững vàng, tính cách lại kiên định, càng quyết tâm muốn được mỹ nhân ưu ái hơn.

Năm thứ hai, hắn dẫn dắt đội thủy quân tinh nhuệ của mình tập kích bất ngờ vào hang ổ của bọn hải tặc chuyên gây hại ở Đông Hải, tiêu diệt hết toàn bộ quân hải tặc, thu được vô số kỳ trân dị bảo, cũng chọn ra một hộp trân châu quý báu to cỡ trứng bồ câu, đắc ý phái người đưa đến Lê quốc, làm chiến lợi phẩm hiến cho Thụy Tuyết.

Đáng tiếc kế sách này của anh hùng chẳng làm lay động được mỹ nhân chút nào, Thụy Tuyết đem trả nguyên xi lễ vật trở về, chẳng thèm quan tâm tới tâm ý của Dung vương, chỉ nhàn nhạt nói: “Diệt gian trừ ác vốn là bổn phận của Vương gia, hà tất gì phải kể công chứ?”

Chu Cẩm Sóc sờ sờ mũi mình, lại tìm đến Minh Hân đế thương lượng, Chu Cẩm Hằng suy nghĩ một chút lại nói: “Cô ta chắc chắn là có thành kiến với ngươi rồi, ngươi cũng đừng phí thêm tâm tư chi nữa, khắp thiên nhai nơi nào mà không có hoa lá cây cỏ* chứ?”

(*) Hoa lá cây cỏ ở đây ý chỉ người đẹp, mỹ nhân, người để thương để yêu í :D

Dung vương bừng tỉnh đại ngộ, thì ra là vì năm đó Thẩm Anh Trì đã cướp mất nam nhân của nàng, thảo nào nàng lại chán ghét võ tướng như thế.

Tuy vậy, Dung vương của chúng ta vẫn không từ bỏ ý định, cũng may là hắn sinh trưởng ở trong cung, từ nhỏ đã được giáo dưỡng nghiêm ngặt, cầm kỳ thi họa đều được học qua cả, chỉ là về sau mang binh đi trấn thủ ở vùng Đông Nam, những thứ tiêu khiển của văn nhân cũng dần bị bỏ xó không đụng tới nữa.

Chu Cẩm Sóc lợi dụng những lúc luyện binh rỗi rãi, tốn hao mấy tháng trời, dùng hết tài năng tiềm tàng của mình mà vẽ thành một bức “Quy Hải Nguyệt Minh đồ”, toàn bộ bức đồ này dài đến hơn mười thước, từ hải cảnh ngoài biển khơi cuồn cuộn sóng gào cho đến phong cảnh đất đai của từng trấn nhỏ vùng duyên hải, trong tranh chứa đựng không biết bao nhiêu hào khí vĩ đại vô biên, lại được chăm chút một cách tinh tế tỉ mỉ, đều là nhờ vào những gì mà hắn thấy được, cảm nhận được vào những năm gần đây cả, tình chân ý thật, làm cho người đứng trước bức họa này có một loại ảo giác như đang đặt mình vào trong đấy.

Lần này sứ giả cũng không mang theo bộ mặt khóc lóc thảm thiết quay trở về nữa, phần lễ này Thụy Tuyết không những không nhận, còn đích thân vẽ một bức “Sơn Cư Chiết Liễu đồ” đáp trả lại hắn.

Sự khởi đầu gian nan không gì sánh được này khiến Chu Cẩm Sóc mừng rỡ không thôi, lại viết thêm một phong thư dài kể lại một vài cố sự ly kỳ lưu truyền ở vùng duyên hải, ngữ khí thân thiết mà không ngả ngớn, trong thư cũng chẳng có nhắc gì tới chuyện tình cảm nam nữ, tự nhiên như bạn bè bình thường kể chuyện mà thôi.

Hai người bắt đầu viết thư cho nhau, hồi âm của Thụy Tuyết cũng dần dần không còn khách khí lãnh đạm mang theo ý cự tuyệt người ta nữa, lại qua thêm một mùa đông, vào lễ Ngọc Chân Hoa đầu xuân năm ấy, Chu Cẩm Sóc đích thân đến Hổ Hà tham dự yến tiệc trong cung, tiếng sáo của hắn đã cùng với tiếng đàn của Thụy Tuyết hòa vào nhau, rốt cuộc cũng làm lay động được người đẹp lạnh lùng này, hôn sự cứ thế mà định.

Đối với tình hình phòng bị căng thẳng giữa hai nước lúc bấy giờ mà nói, việc hôn nhân này quả thật giống như một luồng ánh dương quang xua tan đi mây đen tăm tối, vì thế nên cả hai bên đều rất coi trọng nó, định ra ngày kết hôn mà bắt tay vào làm chuẩn bị, cần phải thật long trọng linh đình.

Sí Nguyệt mới đầu khi biết được tin tức này thì có chút ngoài ý muốn, bất quá sau khi nghe kể về những nỗ lực của Chu Cẩm Sóc vài năm nay, cũng cảm thán một mảnh si tâm của đối phương, đồng thời trong lòng bắt đầu sinh ra ý niệm muốn tới Trung Nguyên một chuyến.

“Hoàng huynh!” Tập võ trở về, Sí Nguyệt liền chạy ngay tới ngự thư phòng tìm Dạ Huyền, “Cho đệ đi cùng đội tống thân (đưa/rước dâu) nha, đệ cam đoan sẽ không làm phiền mọi người đâu.”

Dù sao thì cũng là lễ rước dâu, đội ngũ hoành tráng không dưới nghìn người như thế, y lẫn vào trong ấy cũng đâu có nhằm nhò gì.

Dạ Huyền ngẩng đầu lên khỏi chồng công văn, tựa tiếu phi tiếu mà nhìn y, trêu đùa nói: “Đệ nghĩ rằng huynh không biết chủ ý của đệ là gì sao?”

Mặt Sí Nguyệt đỏ lên, lệnh cho cung nhân đều lui ra ngoài, nửa người ghé vào trên bàn, kéo dài thanh âm mình ra, mang theo ý tứ làm nũng: “Dạ Huyền ca ca~~~, cho đệ đi đi mà! Đệ chỉ muốn đưa Thụy Tuyết đi xuất giá thôi a, bảo đảm sẽ không đụng gì tới tên Hoàng đế kia đâu.”

Dạ Huyền không tin, mỉm cười nhìn đệ đệ đã làm mình hao tổn không ít tâm trí này.

Y giờ đây đã cao lớn không ít, thân thể cũng đã có vẻ rắn chắc hơn nhiều, vài năm qua tập võ khiến cơ thể lộ ra đường cong cơ bắp xinh đẹp, tuy rằng so với những nam tử thành niên vẫn còn hơi gầy, thế nhưng cũng không còn giống như mấy vị công tử thiếu gia yếu ớt mỏng manh nữa, khuôn mặt tuy có vài phần non nớt nhưng giữa hai hàng lông mày lại mang theo anh khí tuấn lãng, bình thường ở trước mặt người khác đã có thể mang bộ dáng uy nghi nghiêm nghị của mình, chỉ có những lúc làm nũng với đại ca là lại biến trở về nhóc con kiêu căng ngốc nghếch mà thôi.

Gương mặt tuyệt mỹ này luôn luôn làm cho người ta canh cánh trong lòng, trước đây là vì yếu đuối vô lực không thể tự bảo vệ mình, hiện giờ đã có thêm vài phần kiên nghị, khiến Dạ Huyền cảm giác được đệ đệ nhà mình đang dần dần trưởng thành rồi, mà chim đã đủ lông đủ cánh thì cũng nên để cho nó bay lượn đi thôi.

Dạ Huyền không thể che chở cho Sí Nguyệt cả đời được, nam nhi phương Bắc là phải mạnh mẽ oai hùng, trong quá trình trưởng thành tất nhiên sẽ trải qua không ít gian khổ, thế nhưng Sí Nguyệt dù sao vẫn phải học cách đối mặt với một vài chuyện, hoặc có lẽ là… Một đoạn cảm tình.

Dạ Huyền là một vị quân vương lãnh tĩnh cơ trí, đồng thời cũng là một người huynh trưởng luôn bảo bọc chở che, đối với những yêu cầu của người mà mình xem trọng đưa ra, gần như là đều đáp ứng cả, lần này cũng không ngoại lệ, Sí Nguyệt được phép đi rước dâu, chỉ có một điều kiện, phải thay đổi thân phận của mình, mai danh ẩn tích mà đi theo đội ngũ.

Sí Nguyệt suy nghĩ một chút, cảm thấy yêu cầu của đại ca cũng không có gì quá đáng, dù sao năm ấy y bỏ trốn khỏi cung không lời từ biệt với Chu Cẩm Hằng, bây giờ lại rầm rầm rộ rộ quay trở về, chỉ e sẽ phải gặp không ít phiền phức.

Trước khi lên đường, việc xuất hành của Sí Nguyệt đều do Nhạc Thừa Lẫm an bài cả, vì sợ khuôn mặt quá mức xinh đẹp của y gây chú ý, Nhạc Thừa Lẫm không cho y cưỡi ngựa nữa, nói chung là tận lực ngăn chặn tất cả các khả năng khiến y phải xuất đầu lộ diện, Sí Nguyệt không thể làm gì khác hơn là bực bội bất bình mà ngồi trong xe ngựa, đồ ăn thức uống đều có người hầu đưa lên, rửa mặt chải đầu thì có thiếp thân nha đầu hầu hạ, ngay cả việc đi nhà xí cũng dùng bô giải quyết ngay trong xe nốt (o.O!!!), chỉ có thể thừa dịp trời tối mọi người đều đi ngủ mới có thể ra ngoài hít thở không khí một chút thôi.

Đoàn người đưa đón dâu vừa hoành tráng lại vừa phô trương, hành trình so với lúc trước khi bọn họ chạy trốn chậm hơn rất nhiều, lúc đến nơi thì đã là chuyện của một tháng sau đó rồi, Sí Nguyệt hầu như cũng bị nghẹn đến phát điên, vừa tới biệt quán* một cái là đã chạy đi ngao du khắp thành, ngay cả y phục cũng không kịp thay đổi.

(*) Biệt quán: một tòa phủ nhỏ dành cho khách ở.

Phong thổ nhân tình vùng Trung Nguyên hoàn toàn khác xa với Lê quốc, khi ấy trong lòng y tràn ngập buồn bực oán hận, không rảnh để mà đi thưởng thức cảnh sắc của kinh thành, từ biệt ba năm, nay trở lại thì tâm tình đã khác trước rồi.

Nhạc Thừa Lẫm còn phải an bài chỗ nghỉ ngơi cho đoàn người nên không thể trông y mãi được, chỉ ra lệnh cho vài cao thủ đi theo bảo vệ y, cũng bắt Sí Nguyệt đeo mặt nạ da người để giấu đi dung mạo của mình, phải trở về trước khi trời tối.

Sí Nguyệt gật đầu đồng ý, đi dạo một vòng nơi phố xá náo nhiệt, mua một vài món đồ chơi mà ở Lê quốc không thường có, sau đó tìm một tòa tửu lâu gọi chút ít đồ ăn, kêu tùy tùng của mình cùng ngồi chung, hưởng thụ những món ngon đặc sắc của Trung Nguyên

Trà lâu tửu quán từ trước đến nay vốn là nơi thông thạo tin tức nhất, Sí Nguyệt vừa ăn vừa cùng tiểu nhị nói chuyện phiếm, không bao lâu đã rõ hết những tin tức mà y muốn biết rồi.

Từ khi chia tay đến nay, Chu Cẩm Hằng đã có bốn vị hoàng tử và hai cô công chúa, xem ra hắn ở trong hậu cung cũng rất chăm chỉ “cày cấy”, trong lòng Sí Nguyệt không khỏi có chút chua chua (ghen í ạ :”>), tuy rằng biết rõ Chu Cẩm Hằng là một vị thiên tử phong lưu, không thể chỉ vì một kẻ qua đường vội vã như y mà kiềm chế tâm tính được, thế nhưng khi nghe đến tin hắn đã con cái đầy đàn, không hiểu sao lại cảm thấy không vui.

Đưa tay vào trong tay áo mình, khẽ vuốt vuốt chiếc đồng tâm kết luôn mang theo bên người kia, Sí Nguyệt đột nhiên thay đổi chủ ý.

Y quyết định làm trái lời hứa với đại ca mình, nghĩ biện pháp gặp mặt Chu Cẩm Hằng.

Không phải vì để tiếp tục tiền duyên (duyên kiếp trước) — dù sao đi nữa thì bọn họ cũng chả có duyên gì để mà tiếp tục cả — chỉ thầm muốn nói một lời từ biệt mà năm ấy chưa kịp nói, làm cho chính mình triệt để giải thoát khỏi cái chuyện tình rối rắm hoang đường này mà thôi.

Y biết cái ý niệm trong đầu này có chút lỗ mãng, sau khi quay về biệt quán vẫn trằn trọc không yên, giống như là bị tâm bệnh không thuốc nào chữa được vậy, chẳng thể làm gì khác hơn là mặt dày đi kiếm Nhạc Thừa Lẫm, cầu hắn nghĩ ra biện pháp an bài để mình đi gặp Hoàng đế.

Vua của một nước, làm gì gặp được dễ dàng như vậy chứ? Huống hồ Sí Nguyệt còn chẳng có tên trong danh sách khách quý, đương nhiên Hoàng đế sẽ không triệu kiến y, hơn nữa, Nhạc Thừa Lẫm không cho rằng để hai người bọn họ hen lén gặp mặt nhau là một ý kiến hay, Sí Nguyệt ra đời chưa bao lâu, vẫn còn ngây thơ non nớt, đâu thể nào là đối thủ của tên hồ ly Chu Cẩm Hằng kia được?

Thế nhưng Sí Nguyệt dường như đã hạ quyết tâm rồi, quấn lấy Nhạc Thừa Lẫm mãi không buông, rốt cuộc cũng khiến hắn gật đầu, thở dài nói: “Được thôi, ba ngày sau sẽ cử hành đại hôn của Dung vương, Minh Hân đế tự mình làm chủ hôn, sau khi tiệc rượu chấm dứt ta sẽ nghĩ biện pháp cho các ngươi gặp mặt, bất quá thứ cho thần nhiều lời, xin nhị điện hạ chớ quên lời dặn của bệ hạ lúc trước đấy.”

“Ngươi yên tâm đi, ta sẽ có chừng mực mà.” Sí Nguyệt không ngừng thề thốt, ngoan ngoãn ở trong biệt quán, lòng đầy vui sướng mà chờ đợi tới thời cơ gặp mặt.

++++

Ngày đại hôn hôm ấy, Sí Nguyệt được đưa tới Dung vương phủ, an trí ở trong một tòa lầu gác nho nhỏ u tĩnh, Nhạc Thừa Lẫm nói cho y biết đây chính là nơi nghỉ ngơi của Hoàng đế mỗi khi giá lâm tới phủ Dung vương, cũng để lại hai gã ám vệ trông coi y, sau đó liền vội vã rời đi.

Sí Nguyệt sợ bị phát hiện nên đã sớm trốn vào phía sau bình phong trong nội thất, nghe bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng pháo giòn tan, kèn trống rung trời, biết Chu Cẩm Hằng đã tới, y nhịn không được lòng hiếu kỳ, tựa bên cửa sổ nhìn ra ngoài xem.

Cây xanh xào xạc lay động, lướt qua tầng tầng lớp lớp gian phòng trong biệt quán, chỉ mơ hồ thấy đám người đứng trước sân bắt đầu náo nhiệt hẳn lên, ai nấy đều mặc lụa là gấm vóc, vui mừng hân hoan mà trông ngóng tân nương xuống kiệu.

Bầu không khí tưng bừng sôi nổi trong sân quả thật hoàn toàn đối lập với căn gác thanh tĩnh này, Sí Nguyệt nhẹ nhàng quay lại chiếc giường nhỏ phía sau bình phong, tiện tay cầm một quyển sách nhàm chán lên đọc, trong lòng thấp thỏm bất an, không biết Chu Cẩm Hằng có qua đây nghỉ ngơi hay không, cũng không biết Nhạc Thừa Lẫm có nói cho hắn biết hay không, lại càng tò mò không biết biểu tình của hắn khi thấy mình sẽ là thế nào.

Biết đâu… Hắn cũng đã sớm quên mình rồi a… Sí Nguyệt lười biếng cuộn người lại, dần dần chìm vào giấc ngủ.

Chẳng qua bao lâu, trong lúc mơ mơ màng màng, Sí Nguyệt dường như nghe được một loạt tiếng bước chân lộn xộn mất trật tự, cùng với những lời mềm nhẹ hỗn loạn của bọn thị nữ: “Tam vương gia, người cẩn thận cánh cửa.”

Sí Nguyệt bỗng dưng thanh tỉnh, giật nảy mình một cái, không khỏi ngồi thẳng người dậy, lặng lẽ bình lại hô hấp.

Vừa nói, các thị nữ vừa vây quanh Đại vương Chu Cẩm Văn lúc này đã say khướt, dìu y vào phòng nằm lên giường, giúp y cởi áo cởi giày, ổn định xong rồi lại vội vàng mang tới một bát canh giải rượu, vốn định để lại hai người trông nom nhưng đều bị Chu Cẩm Văn đuổi đi cả.

Sí Nguyệt trong lòng thầm kêu khổ, người nên tới thì không tới, người không nên tới lại mò tới đây!

Màn đã được buông xuống phân nửa, từ góc độ của Chu Cẩm Văn sẽ không nhìn thấy được phía sau bình phong, thế nhưng Sí Nguyệt nếu muốn chuồn khỏi gian phòng này, tất nhiên phải đi qua giường trước, chẳng phải sẽ bị người bắt gặp sao?

Trong lúc Sí Nguyệt đang hao tổn tâm trí để tính xem nên làm thế nào, lại đột nhiên nghe thấy từ chiếc giường sau màn trướng truyền tới một tiếng khóc khe khẽ, bởi vì không kiềm nén được nữa mà nức nở thành tiếng, như là bị thống khổ đè ép tới nỗi chẳng thở được vậy, khàn khàn mà day dứt, khiến người nghe cũng phải thương tâm.

Sí Nguyệt sợ đến ngây người, lúc đầu còn không tin vào tai mình nữa, nhưng mà tiếng nức nở ấy lại tiếp tục vang lên, chứng minh cho Sí Nguyệt biết bản thân mình hoàn toàn không có nghe lầm — là ai khiến cho Tam vương gia cao cao tại thượng, được vô số người hâm mộ phải trốn trong phòng một mình mà khóc nức nở như thế?

Mà thế này thì Sí Nguyệt lại càng không thể đi ra được, vương công quý tộc bình thường xem trọng sĩ diện còn hơn tính mạng mình, huống hồ là một người nam nhân ở trước mặt người khác luôn uy uy vũ vũ như Chu Cẩm Văn lại càng không thể để cho người khác nhìn thấy khoảnh khắc bản thân mất mặt mất mũi như lúc này được, Sí Nguyệt biết nếu để đối phương phát hiện ra sự hiện diện của mình, chắc chỉ có nước tự kết liễu cho xong.

Sí Nguyệt rầu rĩ cuộn người lại, xiết chặt đồng tâm kết trong tay, quyết định đợi sau khi Chu Cẩm Văn tỉnh rượu rời khỏi đây rồi mới lẻn ra ngoài được, chỉ hy vọng tên kia đừng khóc lâu quá, buổi trưa ăn không được nhiều lắm, bây giờ y đã cảm thấy đoi đói rồi.

Chu Cẩm Văn trở mình, kéo chăn lên che mặt lại, dường như muốn đè nén tiếng khóc của mình xuống, chỉ còn phát ra vài tiếng nấc khe khẽ mà thôi, rất giống một con thú nhỏ bị thương, khiến người có lòng dạ sắt đá cũng phải sinh ra vài phần thương tiếc.

Sí Nguyệt hiếu kỳ đến nỗi như có ai đó đang gãi gãi cào cào lòng mình vậy, phải dùng hết khí lực toàn thân mới đè nén được cơn xung động muốn đi qua dỗ dành đối phương.

Đối với khóc, Sí Nguyệt lại là người thông thạo nhất, từ nhỏ y đã được cưng chiều, mà từ nhỏ y cũng đã rất thích khóc, lúc tức giận, lúc sợ hãi, lúc thấy tủi thân, lúc bị người khác ăn hiếp… Nói chung là mặc kệ lúc nào đi nữa, chỉ cần Sí Nguyệt nghĩ cần phải khóc để hòa hoãn tâm tình là ngay lập tức lệ tuôn như mưa, nước mắt cứ ào ào chảy, so với vỡ đê còn hung mãnh hơn nhiều.

Khóc nhiều đương nhiên sẽ có kinh nghiệm, biết vào trường hợp nào thì nên khóc cho thật to thật lớn, trường hợp nào thì nên khóc thật đau thật khổ như đứt từng khúc ruột, không cần phải kiềm nén chính mình, muốn khóc thì khóc, cũng không ngại ngùng, hơn nữa tuyệt đối sẽ không len lén khóc ở chỗ người khác nhìn không thấy — không ai thấy, có khóc cũng vô dụng, uổng phí nước mắt mà thôi.

Chu Cẩm Văn với Sí Nguyệt đương nhiên là hai loại người khác nhau, khóc đối với Sí Nguyệt mà nói chỉ là một cách để phát tiết tâm tình, còn đối với Chu Cẩm Văn mà nói là một sự khuất nhục, so với chết còn khó chịu hơn, đường đường là một Đại vương lại làm cái chuyện mất thể thống thế này, cho dù là trong lòng đau khổ đến phát nghẹn, nhưng vẫn phải chống đỡ lấy thể diện của hoàng gia, không phải lúc nào cũng có thể giải tỏa thống khổ của bản thân dù chỉ là một chút được.

Sí Nguyệt thật sự không hiểu nổi, những người này rõ ràng đã có quyền thế địa vị trong tay, muốn làm gì thì làm, vì sao còn phải kiềm nén khổ đau trong lòng nữa chứ? Ngay cả vui buồn yêu ghét cũng không thể tùy tiện biểu hiện ra ngoài, sống như vậy mệt chết đi được nha!

Trong lúc Sí Nguyệt còn đang miên man suy nghĩ, đột nhiên nghe thấy tiếng cửa phòng kẽo kẹt bị đẩy ra, có người đi tới.

Nhìn xuyên qua khe hở của bình phong thì chẳng thể thấy rõ được, thế nhưng tiếng kinh hô của Chu Cẩm Văn đã nói cho Sí Nguyệt biết đáp án —

“Hoàng huynh, sao ngươi lại tới đây?”

Tim của thiếu niên đang ẩn trong chỗ tối thoáng chốc đã đập loạn cả lên, gương mặt cũng có chút nong nóng, vừa mừng rỡ, lại vừa bực bội, Đại vương không đi, y làm sao ra ngoài gặp Chu Cẩm Hằng đây?

“Trẫm còn phải hỏi ngươi đấy.” Trong thanh âm trầm thấp của Chu Cẩm Hằng lộ ra khí khái uy nghiêm, hoàn toàn khác hẳn với những khi hắn ngọt ngọt ngào ngào vỗ về tán tỉnh Sí Nguyệt, “Ngay cả rượu hắn ta mời còn chưa uống đã chạy biến đi mất, ngươi thật là có tiền đồ a!”

Chu Cẩm Văn nhất thời nghẹn lời, ngượng ngùng không chịu được mà cúi đầu xuống, Minh Hân đế nhìn hai mắt sưng đỏ của y, không khỏi thở dài, ngữ khí cũng nhu hòa hơn một chút, hỏi: “Khóc rồi à?”

Chu Cẩm Văn càng cúi thấp đầu hơn, hận không thể đào một cái lỗ chui xuống cho rồi, chỉ nghe thấy Chu Cẩm Hằng khẽ cười một tiếng, trào phúng nói: “Hắn lại không nhìn thấy được, ngươi khóc có lợi ích gì? Chỉ phí công dằn vặt chính mình mà thôi.”

Sí Nguyệt nghe nói như thế, cảm thấy trong lòng có chút ưu ưu sầu sầu, lại thấy Chu Cẩm Hằng ngồi xuống bên giường, nhẹ giọng an ủi: “Trẫm làm sao lại có một đệ đệ hết hy vọng như thế này chứ, ngươi yêu ai không yêu, sao hết lần này tới lần khác lại đi thích cái loại bạc tình bạc nghĩa kia vậy?”

Ai cơ? Sí Nguyệt vểnh tai lên, rất sợ sẽ bỏ sót dù chỉ một chữ, mà thanh âm của Chu Cẩm Văn lại khàn khàn, so với muỗi cũng chẳng lớn hơn được là bao, ngượng ngùng nói: “Tâm ta sớm đã chết rồi ấy chứ, chỉ là… Vừa nhìn thấy hắn, trong lòng lại cảm thấy khó chịu…”

Chu Cẩm Hằng vỗ vỗ vai y, dỗ dành nói: “Chấp niệm quá sâu chỉ tổ làm tổn thương chính mình, hôm nào để trẫm thưởng cho người vài nàng mỹ nhân, sắc nghệ song toàn, bảo đảm ngươi sẽ quên luôn cái tên lòng lang dạ sói đó.”

Sí Nguyệt càng nghe càng mơ hồ, khó mà tin được Đại vương tài mạo song toàn kia cư nhiên vì tình mà khổ sở như vậy, hơn nữa nhìn tình hình này xem ra là do đối phương phụ Chu Cẩm Văn rồi.

Trong phòng trầm mặc chỉ trong chốc lát, thanh âm của Chu Cẩm Hằng lại vang lên: “Đã sớm bảo là người Lê quốc chẳng có tâm can mà, lại còn vô tình vô nghĩa, ngươi ăn khổ một lần còn chưa đủ sao chứ?”

Sí Nguyệt nhướng mày, lửa giận xông thẳng lên não.

Cái tên hỗn đản này! Chiêu cáo thiên hạ sẽ giao hảo mấy đời với Lê quốc, vậy mà sau lưng lại đi nói xấu người ta như vậy!

Nắm tay của Sí Nguyệt thật sự rất ngứa ngáy, nếu không phải vẫn còn giữ lại vài phần lý trí, chắc y đã sớm đấm một phát vào khuôn mặt lừa tình kia của Minh Hân đế rồi.

Chu Cẩm Văn rốt cuộc cũng mở miệng, mang theo vài phần không cam lòng: “Hoàng huynh năm ấy không phải cũng bị Sí Nguyệt kia làm cho mê muội đến thần hồn điên đảo sao?”

Đột nhiên nghe được tên của mình, Sí Nguyệt liền dồn hết sức vào hai tai, thở cũng không dám thở mạnh, cực kỳ chăm chú mà chờ đợi câu trả lời của Chu Cẩm Hằng.

Minh Hân đế xùy cười một tiếng, chẳng thèm để tâm mà nói: “Tên tiểu tử kia a, chỉ là nhất thời thấy mới mẻ, vui đùa một chút mà thôi, trẫm làm gì si tình như vậy chớ!”

Một câu nói đó của hắn, Sí Nguyệt nghe được rất rõ ràng, khiến y muốn lừa mình dối người một chút thôi cũng chẳng được, chỉ cảm thấy trước mắt là một trận hư ảo, sắc mặt tái nhợt, bàn tay đang nắm chặt cũng vô lực mà buông ra, chiếc đồng tâm kết ẩm mồ hôi trong tay lặng yên không tiếng động rơi xuống mặt đất.

“Không phải ai cũng đáng giá để chúng ta xuất ra chân tình đâu, có một vài người, thỉnh thoảng chỉ là để vui đùa mà thôi.” Cho dù đã bịt kín hai tai lại, thanh âm của Chu Cẩm Hằng vẫn như trước lọt qua phía sau bình phong, tựa như một mũi dao nhỏ bén nhọn xuyên qua đầu, hung hăng đâm thẳng vào lòng Sí Nguyệt, “Vĩnh viễn cũng không cần phải cúi người để lấy lòng người khác, ta chính là người của Thiên gia (nhà trời), có thể chinh phục người khác, có thể chiếm giữ người khác, thậm chí hủy diệt người đó cũng chẳng khó khăn gì, chỉ duy nhất không làm một chuyện, đó là thỏa hiệp.”

“Hoàng huynh…” Chu Cẩm Văn lắp bắp nói, “Ngươi cũng từng dùng mọi cách để nuông chiều Sí Nguyệt, lẽ nào chỉ là để vui đùa thôi sao?”

“Trẫm cưng y sủng y, chính là bởi vì không thể có được y a.” Minh Hân đế ha ha cười, giống như là đang nói tới một chuyện vụn vặt nào đó không đáng để mình để tâm tới vậy, “Sự kiêu ngạo và cố chấp của y khiến trẫm muốn ngừng mà không được, đợi đến khi y thuần phục rồi, đùa lâu đương nhiên sẽ chán thôi.”

Hai tai Sí Nguyệt như bị ù đi, cảm giác khuất nhục dâng trào trong cơ thể, cả người y đều run rẩy, cảm thấy mình từng vì hắn mà tâm động thật sự là nhục nhã vô cùng, cặp môi mỏng hầu như bị cắn nát, giữa làn môi chậm rãi lan tỏa ra mùi máu tươi nhàn nhạt.

Chu Cẩm Văn thở dài một tiếng, thấp giọng lẩm bẩm: “Lẽ nào sinh ra trong gia đình Đế vương thì đã định trước là không thể dùng chân tâm đối đãi với người mình thích sao?”

“Sinh trong gia đình Đế vương, điều đầu tiên phải học là làm thế nào để yêu một người bình thường.” Chu Cẩm Hằng dùng những lời nói sâu xa để khuyên giải tam đệ hay để tâm tới những chuyện vụn vặt nhà mình, “Dù là cưng chiều sủng hạnh như thế nào đi nữa, cũng không thể để đối phương chi phối tình cảm của ngươi được, nhất thời mềm yếu thì sẽ chẳng có ngày nào an bình, một khi đã nhượng bộ rồi, sẽ chỉ khiến cho đối phương được nước làm tới mà thôi. Tam đệ, ngươi hãy nhớ kỹ, vĩnh viễn đừng khiến mình phải lâm vào hoàn cảnh nguy hiểm như thế.”

Từ xưa đến nay, có biết bao nhiêu là lời giáo huấn về chuyện khuynh quốc khuynh thành, hắn từ nhỏ được nghe nhiều nên đã thấm vào trong xương rồi, và cũng lấy nó làm cảnh giới cho bản thân mình. Khi hắn còn là Thái tử, chỉ biết rằng nếu đã sinh ra trong gia đình Đế vương, tuy nắm trong tay uy quyền tối cao vô thượng, vẫn định trước là sẽ có rất nhiều việc phải thân bất do kỷ, hắn đã từng trải qua không ít tình thế ngặt nghèo, trốn thoát khỏi những đợt công kích ngấm ngầm của người khác mới có thể thuận lợi leo lên được ngôi vị Hoàng đế ngày hôm nay, sao có thể không biết cung đình tranh đấu lợi hại ra sao chứ? Trưởng thành trong một môi trường lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác như vậy, Chu Cẩm Hằng đương nhiên sẽ không cam tâm để bản thân rơi vào chuyện tình cảm không thể khống chế được.

Trong cảm nhận của hắn, ngoại trừ giang sơn quý báu này ra, không có bất kỳ cái gì đáng giá để hắn phải nôn nóng theo đuổi thỉnh cầu cả, đối với người mà mình vừa ý, vua của một nước có thể dành chút tâm tư để mà vui vui đùa đùa, có thể kiềm chế tính tình của mình để mà ôn tồn dỗ dành nâng niu, vậy cũng đã là một sủng hạnh lớn lao rồi.

Nếu hết lần này tới lần khác mà người ta vẫn không cảm nhận được, vậy thì hắn hà tất phải mặt dày bám lấy con người lạnh lùng ấy chứ? Lúc này nhìn thấy cái bộ dáng khổ sở vì tình của Chu Cẩm Văn, hắn lại cảm thấy có vài phần không hài lòng cho lắm.

Bào đệ (em ruột) của mình thật sự là quá ngây thơ rồi, Minh Hân đế lắc đầu, nói: “Ngươi ở đây nghỉ ngơi một chút đi, lúc tân nhân (cô dâu, chú rể) bái đường ngươi còn phải có mặt đấy, đại hôn của tứ đệ, ngươi làm huynh trưởng cũng không thể làm trò cười cho người ngoài được.”

Tình tự của Chu Cẩm Văn lúc này có vẻ đã bình tĩnh hơn, thấp giọng nói: “Ta đã biết, hoàng huynh.”

Những việc ở quá khứ đều là nghiệt duyên cả, mà mấy sợi tơ tình khi ấy cũng đã đứt đoạn hết rồi, đạo lý này, Chu Cẩm Văn có lẽ hiểu có lẽ không, mà Sí Nguyệt trốn ở sau bình phong thì thật sự đã hoàn toàn hiểu rõ.

(1) Tề đại phi ngẫu: ý chỉ người từ hôn tỏ ý dòng dõi hoặc vị thế của mình hèn mọn, không dám trèo cao. Câu nói này xuất phát từ một điển cố: Thời Xuân Thu, Tề Hi Công có lần muốn đem con gái của mình gả cho Thái tử Hốt của Trịnh quốc. Thái tử hốt chối từ nói: “Mỗi người đều có một phối ngẫu (sánh đôi, người hợp với mình) cho riêng mình, Tề quốc là một nước lớn, không phải là phối ngẫu của ta.”

Về sau, bộ lạc Bắc Nhung xâm lấn Tề quốc, Tề quốc hướng Trịnh quốc cầu viện, Thái tử Hốt dẫn dắt quân đội của Trịnh quốc, giúp đỡ Tề quốc đánh bại Bắc Nhung. Tề Hi Công lại nhắc tới chuyện này, Thái tử Hốt kiên quyết chối từ.

Người khắc hỏi hắn, hắn nói: “Trước đây khi ta không giúp đỡ Tề quốc, ta cũng không cưới nữ nhi của Tề hầu. Ngày hôm nay vâng mệnh phụ vương tới giải quyết khó khăn cho người ta, nếu lấy vợ quay về, đây chẳng phải là dùng quân đội của Trịnh quốc đổi lấy hôn nhân của mình hay sao? Bách tính của Trịnh quốc sẽ nói ta như thế nào chứ!” Lại từ biệt rời đi.

[Căn bản là vì anh không thích người ta thì nói đại đi, rắc rồi dài dòng ==!]

(2) Nguyên văn là “Tằng kinh thương hải nan vi thủy”: đã từng ra biển cả mênh mông , thì nước sông nước hồ chẳng có nghĩa gì nữa. Thụy Tuyết nói câu này ý nói trong mắt mình không ai xứng bằng Dạ Huyền, và chỉ có Dạ Huyền mới đáng để cho nàng lấy làm chồng mà thôi.

Nguyên văn:

Tằng kinh thương hải nan vi thủy

Trừ khước Vu Sơn bắt thị vân.

Thơ của một thi sĩ đời Đường khóc vợ, cực tả nỗi niềm thương nhớ, trên đời không có ai đáng cho mình yêu quý hơn nữa, cũng như đã ra biển cả mênh mông , thì nước sông nước hồ chẳng có nghĩa gì: đã lên tận Vu sơn trông thấy mây đẹp thì mây ở chỗ khác chỉ là đám khói chứ không phải mây.

Hỏi sao anh đáng bị đè chứ [-(~ cho chừa cái tật phong lưu :gạch:

Có bạn nào đoán được kẻ khiến bạn Văn phải đau khổ thế kia không :”>~ chuyện tình của bạn cũng éo le không kém đâu :(

Advertisements